BÀI TUYÊN TRUYỀN VỀ LUẬT BẢO VỆ DỮ LIỆU CÁ NHÂN 2025
Lượt xem:
Trong thời đại chuyển đổi số, mỗi học sinh đều sử dụng Internet và mạng xã hội hằng ngày để học tập, giải trí và giao tiếp. Tuy nhiên, việc chia sẻ thông tin cá nhân thiếu kiểm soát đang tiềm ẩn nhiều nguy cơ mất an toàn. Vì vậy, việc tìm hiểu và thực hiện quy định của pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân là hết sức cần thiết.

Luật Bảo vệ Dữ liệu Cá nhân số 91/2025/QH15 được Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam ban hành ngày 26/6/2025 và có hiệu lực từ 01/01/2026. Văn bản này quy định rõ ràng việc bảo vệ thông tin cá nhân của mỗi người, trong đó có học sinh khi sử dụng mạng xã hội, ứng dụng học tập hay các nền tảng trực tuyến.
Tại điều 2 của luật qui định
Dữ liệu cá nhân là dữ liệu số hoặc thông tin dưới dạng khác xác định hoặc giúp xác định một con người cụ thể, bao gồm: dữ liệu cá nhân cơ bản và dữ liệu cá nhân nhạy cảm. Dữ liệu cá nhân sau khi khử nhận dạng không còn là dữ liệu cá nhân.
Dữ liệu cá nhân cơ bản là dữ liệu cá nhân phản ánh các yếu tố nhân thân, lai lịch phổ biến, thường xuyên sử dụng trong các giao dịch, quan hệ xã hội, thuộc danh mục do Chính phủ ban hành.
Dữ liệu cá nhân nhạy cảm là dữ liệu cá nhân gắn liền với quyền riêng tư của cá nhân, khi bị xâm phạm sẽ gây ảnh hưởng trực tiếp đến quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân, thuộc danh mục do Chính phủ ban hành.
Bảo vệ dữ liệu cá nhân là việc cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng lực lượng, phương tiện, biện pháp để phòng, chống hoạt động xâm phạm dữ liệu cá nhân. Như vậy tất cả các thông tin chúng ta sử dụng hàng ngày như
Họ tên, ngày sinh, số điện thoại, địa chỉ
Tên tài khoản (Facebook, TikTok, Instagram…)
Ảnh, video cá nhân, ID học sinh… đều là dữ liệu cá nhân và được pháp luật bảo vệ.
Điều 4 . Quyền và nghĩa vụ của chủ thể dữ liệu cá nhân
- Quyền của chủ thể dữ liệu cá nhân bao gồm:
- a) Được biết về hoạt động xử lý dữ liệu cá nhân;
- b) Đồng ý hoặc không đồng ý, yêu cầu rút lại sự đồng ý cho phép xử lý dữ liệu cá nhân;
- c) Xem, chỉnh sửa hoặc yêu cầu chỉnh sửa dữ liệu cá nhân;
- d) Yêu cầu cung cấp, xóa, hạn chế xử lý dữ liệu cá nhân; gửi yêu cầu phản đối xử lý dữ liệu cá nhân;
đ) Khiếu nại, tố cáo, khởi kiện, yêu cầu bồi thường thiệt hại theo quy định của pháp luật;
- e) Yêu cầu cơ quan có thẩm quyền hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân liên quan đến xử lý dữ liệu cá nhân thực hiện các biện pháp, giải pháp bảo vệ dữ liệu cá nhân của mình theo quy định của pháp luật.
- Nghĩa vụ của chủ thể dữ liệu cá nhân bao gồm:
- a) Tự bảo vệ dữ liệu cá nhân của mình;
- b) Tôn trọng, bảo vệ dữ liệu cá nhân của người khác;
- c) Cung cấp đầy đủ, chính xác dữ liệu cá nhân của mình theo quy định của pháp luật, theo hợp đồng hoặc khi đồng ý cho phép xử lý dữ liệu cá nhân của mình;
- d) Chấp hành pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân và tham gia phòng, chống hoạt động xâm phạm dữ liệu cá nhân.
- Chủ thể dữ liệu cá nhân khi thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình phải tuân thủ đầy đủ các nguyên tắc sau đây:
- a) Thực hiện theo quy định của pháp luật; tuân thủ nghĩa vụ của chủ thể dữ liệu cá nhân theo hợp đồng. Việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể dữ liệu cá nhân phải nhằm mục đích bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chính chủ thể dữ liệu cá nhân đó;
- b) Không được gây khó khăn, cản trở việc thực hiện quyền, nghĩa vụ pháp lý của bên kiểm soát dữ liệu cá nhân, bên kiểm soát và xử lý dữ liệu cá nhân, bên xử lý dữ liệu cá nhân;
- c) Không được xâm phạm đến quyền, lợi ích hợp pháp của Nhà nước, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác.
- Cơ quan, tổ chức, cá nhân có trách nhiệm tạo điều kiện thuận lợi, không được gây khó khăn, cản trở việc thực hiện quyền và nghĩa vụ của chủ thể dữ liệu cá nhân theo quy định của pháp luật.
- Khi nhận được yêu cầu của chủ thể dữ liệu cá nhân để thực hiện quyền của chủ thể dữ liệu cá
Điều 7. Hành vi bị nghiêm cấm
- Xử lý dữ liệu cá nhân nhằm chống lại Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, gây ảnh hưởng đến quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, quyền, lợi ích hợp pháp của cơ quan, tổ chức, cá nhân.
- Cản trở hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân.
- Lợi dụng hoạt động bảo vệ dữ liệu cá nhân để thực hiện hành vi vi phạm pháp luật.
- Xử lý dữ liệu cá nhân trái quy định của pháp luật.
- Sử dụng dữ liệu cá nhân của người khác, cho người khác sử dụng dữ liệu cá nhân của mình để thực hiện hành vi trái quy định của pháp luật.
- Mua, bán dữ liệu cá nhân, trừ trường hợp luật có quy định khác.
- Chiếm đoạt, cố ý làm lộ, làm mất dữ liệu cá nhân.
Điều 8. Xử lý vi phạm pháp luật về bảo vệ dữ liệu cá nhân
- Tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm quy định của Luật này và quy định khác của pháp luật có liên quan đến bảo vệ dữ liệu cá nhân thì tùy theo tính chất, mức độ, hậu quả của hành vi vi phạm có thể bị xử phạt hành chính hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình sự; nếu gây thiệt hại thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.
- Việc xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bảo vệ dữ liệu cá nhân thực hiện theo quy định tại các khoản 3, 4, 5, 6 và 7 Điều này và pháp luật về xử lý vi phạm hành chính.
- Mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính đối với hành vi mua, bán dữ liệu cá nhân là 10 lần khoản thu có được từ hành vi vi phạm; trường hợp không có khoản thu từ hành vi vi phạm hoặc mức phạt tính theo khoản thu có được từ hành vi vi phạm thấp hơn mức phạt tiền tối đa quy định tại khoản 5 Điều này thì áp dụng mức phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều này.
- Mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính đối với tổ chức có hành vi vi phạm quy định chuyển dữ liệu cá nhân xuyên biên giới là 5% doanh thu của năm trước liền kề của tổ chức đó; trường hợp không có doanh thu của năm trước liền kề hoặc mức phạt tính theo doanh thu thấp hơn mức phạt tiền tối đa theo quy định tại khoản 5 Điều này thì áp dụng mức phạt tiền theo quy định tại khoản 5 Điều này.
- Mức phạt tiền tối đa trong xử phạt vi phạm hành chính đối với các hành vi vi phạm khác trong lĩnh vực bảo vệ dữ liệu cá nhân là 03 tỷ đồng.
- Mức phạt tiền tối đa quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều này được áp dụng đối với tổ chức; cá nhân thực hiện cùng hành vi vi phạm thì mức phạt tiền tối đa bằng một phần hai mức phạt tiền đối với tổ chức.
Điều 24. Bảo vệ dữ liệu cá nhân của trẻ em, người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi
- Bảo vệ dữ liệu cá nhân của trẻ em, người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự, người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thực hiện theo quy định của Luật này.
- Đối với trẻ em, người bị mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự hoặc người có khó khăn trong nhận thức, làm chủ hành vi thì người đại diện theo pháp luật thay mặt thực hiện các quyền của chủ thể dữ liệu cá nhân, trừ các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều 19 của Luật này. Việc xử lý dữ liệu cá nhân của trẻ em nhằm công bố, tiết lộ thông tin về đời sống riêng tư, bí mật cá nhân của trẻ em từ đủ 07 tuổi trở lên thì phải có sự đồng ý của trẻ em và người đại diện theo pháp luật.
Các em học sinh thân mến, việc chúng ta sử dụng mạng xã hội hàng ngày cũng là việc chúng ta đang sử dụng dữ liệu cá nhân của mình. Vậy chúng ta cần sử dụng mạng xã hội như thế nào cho an toàn và hiệu quả? Để sử dụng mạng xã hội hiệu quả chúng ta cần trang bị một số kĩ năng cơ bản như sau:
Một. Bảo mật thông tin cá nhân
Những thông tin như tên thật, tuổi, trường lớp, địa chỉ nhà, ảnh cá nhân là những thông tin cần được bảo mật, không nên chia sẻ nhưngx thông tin này trên mạng xã hội.Nên bảo mật tài khoản 2 lớp để tránh bị lấy cắp.
Hai. Nhận biết các dạng lừa đảo trên mạng xã hội
Các đối tượng lừa đảo thường sử dụng các chiêu trò như kết bạn, nói chuện thân thiết để tạo lòng tin của chúng ta, muốn gửi quà tặng, nhắn tin trúng thưởng, đăng kí việc làm trực tuyến yêu cầu chúng ta cung cấp thông tin, giả danh công an, cán bộ của cơ quan kiểm sát, toà án…
Ba. Ứng xử văn minh trên mạng xã hội không nói tục, chửi thề
Bốn. Giới hạn thời gian sử dụng mạng xã hội trong ngày
Năm. Chọn lọc bạn bè trên mạng xã hội
Trong thời đại số, mỗi học sinh không chỉ học tập trên Internet mà còn đang sống trong không gian mạng mỗi ngày. Việc hiểu và thực hiện đúng Luật Bảo vệ dữ liệu cá nhân không chỉ giúp các em tránh được những rủi ro trên mạng xã hội mà còn hình thành thói quen sử dụng Internet an toàn, văn minh và có trách nhiệm. Mỗi học sinh hãy bắt đầu từ những việc nhỏ: cẩn trọng khi chia sẻ thông tin, tôn trọng quyền riêng tư của người khác và chủ động bảo vệ dữ liệu cá nhân của chính mình.
An toàn trên mạng hôm nay là nền tảng cho một tương lai số lành mạnh và bền vững ngày mai.